1. Đức Tổng Giám Mục Gallagher nói với Lavrov: Chiến tranh ở Ukraine ‘phải chấm dứt’

Đức Tổng Giám Mục Richard Gallagher đã tuyên bố rằng cuộc chiến ở Ukraine "phải chấm dứt" khi ngài phát biểu bên cạnh Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov trong một cuộc họp báo sau cuộc gặp gỡ của hai người. Tuyên bố này được đưa ra trong bối cảnh Đức Tổng Giám Mục Gallagher, Ngoại trưởng Tòa Thánh phụ trách Quan hệ với các nước, đang thực hiện chuyến thăm ngoại giao tới Mạc Tư Khoa như một phần nỗ lực của Tòa Thánh nhằm thúc đẩy hòa bình giữa hai nước.

Đức Tổng Giám Mục Gallagher cho biết hai người đã nói chuyện về "cuộc chiến bi thảm ở Ukraine" và thảo luận về các hướng đi khả thi cho một "nền hòa bình công bằng và lâu dài", cũng như giải quyết các vấn đề nhân đạo trong cuộc xung đột. Đức Tổng Giám Mục lưu ý rằng có "những khác biệt dai dẳng và đáng kể" trong đánh giá của hai bên về cuộc xung đột. Tuy nhiên, cả hai đều đồng ý về tầm quan trọng của việc duy trì các kênh liên lạc và bảo vệ dân thường.

Năm ngoái, Đức Tổng Giám Mục đã bày tỏ rõ quan điểm của mình về cuộc chiến, tuyên bố rằng quyết định xâm lược Ukraine là "theo ý riêng của Nga" bác bỏ luận điệu lâu năm của Putin cho rằng Nga buộc phải tấn công Ukraine để tự vệ. Đức Tổng Giám Mục Gallagher lần cuối đến thăm Nga vào tháng 11 năm 2021, trước khi Nga xâm lược, và lần cuối cùng ngài nói chuyện với Lavrov qua điện thoại là vào tháng 4 năm 2025.

Đức Tổng Giám Mục Gallagher phát biểu tại cuộc họp báo: "Tòa Thánh tiếp tục theo dõi với sự quan ngại sâu sắc cuộc chiến ở Ukraine và lên án những đau khổ của những người vô tội. Sau hơn bốn năm xung đột, cuộc chiến vẫn tiếp tục lan rộng. Số nạn nhân tiếp tục tăng lên. Nhiều gia đình vẫn bị chia cắt và hậu quả vật chất cũng như tâm lý của cuộc xung đột ảnh hưởng đến hàng triệu người ở Ukraine và Nga. Chúng ta cần phải nói rõ, cuộc chiến này phải chấm dứt."

Ngài nói tiếp: "Vì lý do này, trong cuộc trao đổi của chúng ta, tôi đã nhắc lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Lêô XIV về việc chấm dứt các hành động thù địch và bắt đầu các cuộc đàm phán thực sự với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Lập trường của Tòa Thánh vẫn rõ ràng: Xung đột không thể được giải quyết bằng các biện pháp quân sự. Điều cần thiết là tạo ra các điều kiện cho một tiến trình chính trị và ngoại giao nghiêm chỉnh."

Ngài tuyên bố rằng cuộc đối thoại hàm ý "sự thừa nhận thực tế rằng xung đột càng kéo dài, càng khó đạt được một giải pháp thỏa đáng trong khi nỗi đau khổ của người dân ngày càng gia tăng". Đức Tổng Giám Mục Gallagher kêu gọi Nga và Ukraine thể hiện sự cởi mở đối thoại để hòa bình có thể được thiết lập càng sớm càng tốt.

"Đồng thời," ngài lưu ý, "Tòa Thánh tái khẳng định nghĩa vụ tôn trọng luật nhân đạo quốc tế, bao gồm cả việc bảo vệ dân thường, các công trình và cơ sở hạ tầng, cũng như việc điều trị người bị thương và tù binh chiến tranh."

"Hòa bình phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng đầy đủ luật pháp quốc tế và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Hòa bình cũng phải tính đến sự an toàn và phẩm giá của tất cả các dân tộc liên quan. Chúng ta đồng ý rằng không thể bảo đảm an toàn cho một cá nhân bằng cách hy sinh sự an toàn của những người khác."

Đức Tổng Giám Mục nhấn mạnh rằng sự hợp tác trong các nỗ lực nhân đạo là điều thiết yếu, và cho biết hai người đã thảo luận về việc đưa trẻ em trở về với gia đình, việc đối xử với tù binh chiến tranh và thường dân bị giam giữ, việc cung cấp thông tin về người mất tích và hỗ trợ cho những người bị thương. Ngài kêu gọi không nên chính trị hóa những nỗ lực này và nhấn mạnh rằng sự hợp tác hướng tới các mục tiêu này có thể "làm giảm bớt đau khổ và góp phần xây dựng lại mức độ tin tưởng tối thiểu giữa các bên".

Tái khẳng định thiện chí đóng góp vào các nỗ lực nhân đạo của Tòa Thánh, ngài ghi nhận những đóng góp của các Giáo hội trong cuộc xung đột ở khu vực này. Hướng đến Giáo Hội Công Giáo tại Nga, ngài tuyên bố rằng cả hai bên "đã khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các mối liên hệ thường xuyên và mang tính xây dựng".

Đức Tổng Giám Mục Gallagher nói: "Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất vẫn là nhu cầu đạt được hòa bình. Mỗi ngày chiến tranh tiếp diễn đều tạo ra thêm nạn nhân, làm trầm trọng thêm sự khác biệt giữa các dân tộc liên quan và khiến cho việc hòa giải trong tương lai ngày càng khó khăn hơn. Do đó, việc chấm dứt và nhìn xa hơn cuộc xung đột là vô cùng cấp bách và cần thiết để bảo đảm rằng ký ức về những sai lầm trong quá khứ không trở thành nhà tù và những đau khổ hiện tại không trở thành di sản của lòng thù hận."

Ngài kết luận bằng cách đề nghị sự hỗ trợ của Tòa Thánh trên mọi phương diện có thể thúc đẩy việc đạt được hòa bình. "Đây là nguyện vọng chân thành của tôi dành cho người dân Liên bang Nga, người dân Ukraine và tất cả những người tiếp tục chịu đau khổ vì cuộc chiến tranh bi thảm này", ngài nói.

Chuyến thăm của Đức Tổng Giám Mục Gallagher bao gồm các chuyến thăm mục vụ tới các tín hữu Công Giáo ở Nga, với số lượng chỉ dưới 800.000 người và liên tục bị làm khó dễ. Tuy nhiên, mục đích chính trong chuyến thăm này là một phần trong những nỗ lực lâu dài của Tòa Thánh nhằm thúc đẩy hòa bình giữa Nga và Ukraine. Dự kiến những nỗ lực đó sẽ tiếp tục vào ngày 26 tháng 8, khi Đức Tổng Giám Mục gặp gỡ Yuri Ushakov, Trợ lý Chính sách Đối ngoại của Tổng thống Liên bang Nga.


Source:Catholic Herald



2. Nhân Ngày Độc lập, Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk tuyên bố: "Nhà nước phải là người bảo đảm phẩm giá con người và quốc gia".

Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk, là Nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Ukraine nghi lễ Đông phương, đã chúc mừng người dân Ukraine nhân Ngày Quốc Khánh Ukraine cũng còn được gọi là Ngày Độc lập của Ukraine và nhấn mạnh rằng độc lập không chỉ là món quà tự do mà còn là trách nhiệm mà mỗi người phải gánh vác đối với hiện tại và tương lai của đất nước.

Nhân Ngày Độc lập, Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk tuyên bố: "Nhà nước phải là người bảo đảm phẩm giá con người và quốc gia".

Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk nhấn mạnh rằng đối với người Kitô hữu, Ngày Độc lập trước hết là ngày lễ tạ ơn Chúa vì món quà tự do. Đồng thời, ngày này nhắc nhở chúng ta nhận thức trách nhiệm cá nhân đối với quốc gia, đặc biệt là hiện nay, khi người dân Ukraine đang phải bảo vệ nền độc lập của mình, bảo vệ hướng đi do mình lựa chọn.

Đức Tổng Giám Mục nhắc nhớ rằng vào ngày 24 Tháng Tám, 1991, Verkhovna Rada, tức là Quốc Hội độc viện của Ukraine, đã tuyên cáo trước thế giới rằng nước này muốn từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để quay lại với truyền thống Kitô Giáo của mình, đoạn tuyệt hoàn toàn với Liên Xô và khai sinh nước Ukraine hiện đại.

Kể từ đó, Nga đã không ngừng gây ra các áp lực xóa bỏ nền độc lập của Ukraine.

Trong bài phát biểu chính thức công nhận các vùng Donetsk và Luhansk của Ukraine là các nước cộng hòa độc lập vào ngày 21 tháng 2 năm 2022, tên bạo chúa Nga Vladimir Putin nói rằng Ukraine "chưa bao giờ có một truyền thống ổn định về nền độc lập thực sự của riêng mình" và chỉ trích chính phủ của Tổng thống Zelenskiy vì "đánh mất bản sắc dân tộc". Hắn ta chế giễu những người biểu tình kéo đổ tượng Lenin và đưa ra lời đe dọa trắng trợn: "Các ngươi muốn phi cộng sản hóa hả? Chúng tôi sẵn sàng cho các ngươi thấy phi cộng sản hóa thực sự có nghĩa là gì đối với Ukraine."

Ba ngày sau, trực thăng và máy bay chiến đấu Nga bay vào không phận Ukraine khi xe tăng bắt đầu tiến về Kyiv trong một cuộc xâm lược mà theo tính toán của Putin sẽ kéo dài không quá một tuần nhưng thực tế đã kéo dài cho đến nay.

Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk nhấn mạnh rằng "Đây là ngày mà mỗi người trong chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho hiện tại và tương lai của mình, đặc biệt là bây giờ khi chúng ta phải bảo vệ nền độc lập này, sẵn sàng cầm vũ khí nếu cần thiết"

Khi nói về quan điểm Kitô giáo về nhà nước, Đức Tổng Giám Mục nhấn mạnh rằng nhà nước không phải là mục tiêu tối thượng tự thân nó, mà được kêu gọi để phục vụ nhân dân và bảo vệ phẩm giá của họ.

" Người Kitô hữu không tôn thờ nhà nước; họ không coi nhà nước là mục tiêu tối thượng. Nhà nước là công cụ để phục vụ phẩm giá con người," Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk nói.

Ngài nhắc lại rằng trong nhiều thế kỷ, người Ukraine - sống trên chính mảnh đất của mình nhưng thuộc về các quốc gia nước ngoài - đã phải đối mặt với sự đàn áp vì ngôn ngữ mẹ đẻ, văn hóa, tín ngưỡng và khát vọng trở thành một dân tộc tự do. Đó là lý do tại sao, trong nhiều thế kỷ, người Ukraine đã đấu tranh cho một nhà nước độc lập của riêng mình - một nhà nước sẽ bảo đảm tất cả những gì chúng ta hiểu là "phẩm giá con người" và "phẩm giá dân tộc".

Theo ngài, ngày nay trách nhiệm xây dựng một Ukraine độc lập thuộc về tất cả mọi người, không có ngoại lệ - cả chính phủ và mọi công dân.

"Đây là trách nhiệm của chính phủ đối với người dân, trách nhiệm duy trì Hiến pháp và pháp luật của đất nước. Đó là trách nhiệm loại bỏ mọi thứ đang hủy hoại chúng ta từ bên trong, chẳng hạn như tham nhũng hoặc các khó khăn xã hội nội bộ khác," Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk nhấn mạnh.

Đồng thời, ngài nói, mỗi công dân đều được kêu gọi đóng góp vào sự phát triển tốt đẹp hơn của Ukraine. Đối với một người Kitô hữu, nguồn gốc của trách nhiệm này nằm ở nhận thức về lợi ích chung và mục tiêu mà người dân Ukraine ngày nay đang bảo vệ và củng cố quốc gia tự do của họ.

Nhân Ngày Độc lập ngài đã kêu gọi mọi người hãy tưởng nhớ và cầu nguyện cho tất cả những người đã chiến đấu vì tự do của Ukraine trong suốt lịch sử và hy sinh mạng sống của mình vì đất nước, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn đối với những người bảo vệ đất nước đương thời.

"Hôm nay chúng ta biết ơn Quân đội Ukraine, những anh hùng của chúng ta hiện nay, những người - cả ở tiền tuyến và hậu phương - đang bảo đảm rằng Tổ quốc chúng ta vẫn tự do, thống nhất và độc lập. Chúng ta hãy cầu nguyện, tưởng nhớ, tạ ơn và tiếp tục công việc của mình. Lạy Chúa, Đấng Vĩ đại và Duy nhất, xin bảo vệ Ukraine cho chúng con," Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk kết luận.


Source:UGCC



3. Sứ thần Tòa Thánh tại Ukraine nói: "Cầu nguyện là vũ khí số một của chúng ta" chống lại sự xâm lược của Nga.

Khi cuộc chiến toàn diện của Nga chống lại Ukraine — tiếp tục các cuộc tấn công được phát động từ năm 2014 — sắp bước sang năm thứ năm, nhân dịp quốc khánh Ukraine ngày 24 Tháng Tám, OSV News đã có cuộc trò chuyện vào với Đức Tổng Giám Mục Visvaldas Kulbokas, Sứ thần Tòa Thánh tại Ukraine, để cùng suy ngẫm về đức tin và cầu nguyện trong bối cảnh xung đột không ngừng nghỉ.

OSV News: Thưa Đức Cha, tình hình của người dân Ukraine, đặc biệt là người Công Giáo Ukraine, hiện nay ra sao khi cuộc xâm lược toàn diện bước sang năm thứ năm?

Đức Tổng Giám Mục Kulbokas: Một đồng nghiệp của tôi trong ngành ngoại giao Tòa Thánh nói với tôi rằng, mặc dù trước đây ngài đã đọc tin tức và xem video, nhưng ngài vẫn coi cuộc chiến ở Ukraine như một điều gì đó xa vời. Nhưng hiện tại ngài đang ở một đất nước đang phải gánh chịu những khó khăn to lớn do chiến tranh gây ra, và ngài nói, "Giờ thì tôi đã hiểu."

Khó khăn lớn là khi chúng ta chỉ đọc tin tức hoặc xem một vài video, điều đó không đủ để hiểu đầy đủ tình hình. Chúng ta thiếu kinh nghiệm thực tế về chiến tranh. Đó là một thách thức lớn liên quan đến tất cả mọi người.

Một trong những thách thức mà người Công Giáo Ukraine đang phải đối mặt là việc không được thấu hiểu. Tôi nhắc nhở các giám mục, linh mục và tất cả các tín hữu rằng, ngay cả khi anh chị em chúng ta — ngay cả khi những người Công Giáo trên thế giới — không hiểu chúng ta, thì Chúa mới là người thấu hiểu.

Đó chính là ân sủng lớn lao nhất mà chúng ta có. Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta; Ngài là người duy nhất không bao giờ làm vậy.

Mỗi người đều làm những gì mình có thể, vì vậy nhiệm vụ của chúng ta là chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận và cầu nguyện cùng nhau. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ hiểu đầy đủ về tình hình.

OSV News: Thưa Đức Cha, trong vài năm qua, nhiều người đã cầu nguyện cho Ukraine. Đức Cha sẽ nói gì với những người đang đau lòng vì lời cầu nguyện của họ không được đáp lại như họ mong đợi?

Đức Tổng Giám Mục Kulbokas: Chúa luôn là một điều bí ẩn đối với chúng ta, và vì vậy, kế hoạch quan phòng thiêng liêng của Chúa cũng là một điều bí ẩn đối với chúng ta. Chúng ta không bao giờ biết kế hoạch đó là gì.

Chúng ta biết rằng mục tiêu chính của chúng ta thậm chí không phải là cuộc sống tự do trên trần gian. Ơn gọi của chúng ta là đến vương quốc của Chúa, sống cuộc sống vĩnh hằng — điều đó có nghĩa là chúng ta không có sự bảo đảm nào từ Chúa rằng Ngài sẽ bảo vệ cuộc sống thể xác của chúng ta cũng như cuộc sống tâm linh của chúng ta.

Một khía cạnh khác, và tôi muốn nhấn mạnh điều này, đó là khi chúng ta phải đối mặt với sự xâm lược khủng khiếp từ phía Nga, như Chúa Giêsu đã nhấn mạnh, sự xâm lược này không thể giết chết đời sống tâm linh, đời sống vĩnh cửu của chúng ta. Nhưng luôn có một thách thức là sự xâm lược quân sự này có thể gây ra phản ứng trong lòng chúng ta: sự hoài nghi, mất hy vọng, giận dữ đối với Chúa và anh chị em của chúng ta. Đó là một cám dỗ rất, rất lớn, thậm chí còn kịch tính và bi thảm hơn cả chính cuộc chiến tranh. Nó sẽ đồng nghĩa với sự thất bại về mặt tâm linh.

Vì vậy, tôi đang tự nhắc nhở bản thân mình — và tôi mời các linh mục và giám mục của chúng ta cùng nhấn mạnh — rằng chúng ta cần cầu nguyện và giải thích cho anh chị em mình rằng chúng ta cần giữ vững niềm hy vọng. Và niềm hy vọng của chúng ta là Chúa Giêsu, chứ không phải cuộc sống này.

Khía cạnh thứ ba là sự huyền bí của lời cầu nguyện. Tôi đã thảo luận điều này với một người bạn ở giáo xứ quê tôi tại Lithuania, nơi một người phụ nữ gặp khó khăn trong mối quan hệ với con trai đã cầu nguyện suốt sáu năm (để khôi phục lại sự liên lạc). Gần đây, bà ấy đã tập trung và quyết tâm hơn vào lời cầu nguyện của mình. Cuối cùng, con trai bà đã gọi điện cho bà sau sáu năm mất liên lạc. Và đối với tôi, đó là một phép lạ.

Điều đó cũng cho thấy có sự khác biệt lớn giữa "cầu nguyện" và cầu nguyện chân chính. Chúng ta có thể cầu nguyện một cách rất hời hợt, nông cạn — hoặc có thể không phải hời hợt, nhưng vẫn thiếu sự tập trung hoặc quyết tâm. Việc trở nên quyết tâm và tập trung hơn trong cầu nguyện cũng là một thách thức đối với tôi.

Vậy chúng ta cầu nguyện cho điều gì? Chúng ta cầu nguyện cho hòa bình. Chúng ta cũng cầu nguyện cho sự hoán cải của nước Nga. Tại Fatima, Đức Mẹ đã nhấn mạnh điều đó. Sự hoán cải của nước Nga sẽ là một món quà từ Thiên Chúa — sự hoán cải hướng về Thiên Chúa, hướng về hòa bình, hướng về việc tôn trọng con người.

Khía cạnh cuối cùng là sự kiên trì và quyết tâm, bởi vì cái ác luôn cố gắng cám dỗ chúng ta bằng cách nói rằng, "À, bạn thấy đấy, bạn đã cầu nguyện một năm, năm năm hoặc thậm chí mười năm, mà vẫn không thấy kết quả rõ rệt nào từ lời cầu nguyện của mình. Vậy thì hãy quên việc cầu nguyện đi."

Và như chúng ta đã đọc nhiều lần trong các sách Phúc Âm, Chúa Giêsu mong đợi phản ứng tích cực, trung thành của chúng ta khi gặp phải những trở ngại đó. Ngay cả trong những tình huống khó khăn này, khi sau năm năm mà lời cầu nguyện của chúng ta vẫn chưa được đáp ứng và chúng ta vẫn tiếp tục cầu nguyện — đó là điều Chúa Giêsu muốn thấy nơi chúng ta. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã chiến thắng cái ác, kẻ đến với chúng ta và những nỗ lực ngăn cản lời cầu nguyện của chúng ta không còn lý do gì để tiếp tục nữa.

Càng phản ứng với đức tin trước những trở ngại đó — sự thiếu kết quả, sự thiếu hiệu quả của lời cầu nguyện — và càng tập trung vào cầu nguyện, chúng ta càng trưởng thành trong đức tin và chiến thắng được điều ác.

OSV News: Thưa Đức Cha, gần đây, ngài đã nói với Đài phát thanh Vatican rằng Đức Giáo Hoàng Lêô có lẽ là tiếng nói duy nhất đứng lên bảo vệ hòa bình. Vậy người Công Giáo bình thường có thể ủng hộ lời kêu gọi hòa bình của Đức Giáo Hoàng bằng cách nào?

Đức Tổng Giám Mục Kulbokas: Tôi vẫn tin rằng cầu nguyện là vũ khí số một của chúng ta. Chúng ta cần đặt cả tấm lòng vào lời cầu nguyện. Chúng ta cần chia sẻ kinh nghiệm, tấm lòng, những khó khăn của mình, để thấu hiểu những đấu tranh về mặt cảm xúc, để lời cầu nguyện được tràn đầy cảm xúc chứ không chỉ là lý thuyết suông. Điều đó có nghĩa là cần có những mối liên hệ cá nhân, không chỉ giữa các quan chức. Mỗi anh chị em đều có khả năng tiếp cận mọi người.

Khi tôi đến Rôma, tôi tham gia các buổi cầu nguyện cho hòa bình. Đôi khi tôi thấy những người khác cầu nguyện rất thoải mái, và tôi cần phải quay về Ukraine trong tâm trí - về những khó khăn của tù binh chiến tranh, của trẻ em, của những người bị tra tấn, của những người bị thương - để có thể cầu nguyện. Vì vậy, khía cạnh cảm xúc (của việc cầu nguyện) rất quan trọng.

Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm rằng gái mại dâm và người thu thuế được ưu tiên hơn những người khác trong Vương quốc của Thiên Chúa, bởi vì đôi khi những người không ngờ tới lại cởi mở hơn với mối liên hệ tình cảm này với Chúa Giêsu, một mối liên hệ bắt đầu từ lý trí và đi đến trái tim.

Điều thứ hai mà tôi cho là rất quan trọng là vai trò của Giáo hội. Ở Nga và các nước khác, chúng ta gặp khó khăn với chính phủ và chính quyền. Vậy vai trò của Giáo hội là gì, không chỉ với tư cách là một thể chế, mà còn với tư cách là một cộng đồng tín hữu?

Chúng ta cần phải vừa sáng tạo vừa chú ý đến hoàn cảnh. Giáo hội không chỉ là Đức Giáo Hoàng; tất cả chúng ta đều cùng thuộc về một Giáo hội. Và đôi khi, các cá nhân trong những tình huống nhất định lại có khả năng tác động đến hòa bình lớn hơn cả chính Đức Giáo Hoàng. Nếu chúng ta có khả năng thảo luận nghiêm chỉnh về hòa bình với các nhà lãnh đạo chính trị, chúng ta cần phải làm điều đó, bởi vì nếu chúng ta không làm, thì ai sẽ làm?

OSV News: Thưa Đức Cha, điều gì cụ thể mang lại cho Đức Cha niềm hy vọng vào lúc này?

Đức Tổng Giám Mục Kulbokas: Theo quan điểm logic của con người, đánh giá của tôi là tình hình chung của nhân loại - với vũ khí và trí tuệ nhân tạo đang phát triển nhanh chóng - là những thách thức sẽ chỉ ngày càng gia tăng. Nhưng rồi tôi lại nói, "Tạ ơn Chúa vì tôi có thể nhận ra sự mong manh này của nhân loại, và thấy rằng chúng ta đang thiếu sự gắn kết, hợp tác và nỗ lực."

Điều đó cho tôi thấy tôi cần tập trung vào hai khía cạnh: một là vào Chúa, Đấng luôn có khả năng nói, "Dừng lại." Nhưng theo sự hiểu biết của tôi, Ngài đang nói, "Hãy chịu trách nhiệm về hoàn cảnh của bạn; hãy chủ động (vì hòa bình)."

Khía cạnh thứ hai là tầm quan trọng của các mối quan hệ cá nhân. Thông qua mạng lưới những trái tim con người này, chúng ta cần tạo ra một phản ứng huynh đệ đối với chiến tranh và việc xây dựng hòa bình, bằng cách sử dụng những tài năng nhỏ bé, những khả năng hạn chế của mình. Trong Phúc Âm, như chúng ta thấy trong phép lạ hóa bánh và cá, chúng ta có rất ít cá, rất ít tài năng, rất ít bánh. Nhưng Chúa Giêsu vẫn nói: "Hãy dùng tài năng của các con, rồi Ta sẽ làm cho nỗ lực của các con được tăng lên bội phần."


Source:OSVNEWS