Chương 7: THÁNH GIÊ-RÔ-NI-MÔ



Ban đầu, Giáo hội phương Tây công nhận bốn người là các tiến sĩ hoặc thầy giáo ưu tú của mình: Am-brô-si-ô, Au-gus-ti-nô, Giê-rô-ni-mô và Grê-go-ri-ô Cả. Mỗi người trong số họ đều đóng một vai trò riêng biệt trong việc định hình thần học và linh đạo của Giáo Hội Công Giáo. Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung vào Thánh Giê-rô-ni-mô, người có cuộc đời trải dài phần lớn thế kỷ thứ tư và theo nhiều cách, là hiện thân của lịch sử thời đại ngài.

Thánh Giê-rô-ni-mô sinh ra trong một gia đình Kitô giáo giàu có, có lẽ vào năm 331, tại thị trấn Striden, thuộc tỉnh Dalmatia nói tiếng La-tinh của Rô-ma, một phần của Nam Tư ngày nay. Mặc dù đầu đời ngài còn nhiều điều bí ẩn, nhưng chúng ta biết rằng ngài đã được hưởng một nền giáo dục xuất sắc so với thời đó. Ngài học ngữ pháp ở Rô-ma dưới sự hướng dẫn của Aelius Donatus nổi tiếng, người có các tác phẩm được sử dụng làm sách giáo khoa trong suốt thời Trung cổ. Dưới sự hướng dẫn của học giả vĩ đại trong khoảng bốn hoặc năm năm, Thánh Giê-rô-ni-mô đã nghiên cứu chuyên sâu các tác phẩm cổ điển của Rô-ma—Vergil, Cicero, Terence, Sallust, Horace và những người khác—nuôi dưỡng tài năng văn chương theo cách này, điều đã đưa ngài trở thành nhà văn có phong cách vĩ đại nhất của Kitô giáo cổ thời. Việc nghiên cứu thêm về hùng biện đã kéo dài thời gian ngài ở lại Rô-ma thêm có thể bốn hoặc năm năm nữa, một khoảng thời gian trong đó ngài cũng bắt đầu tích lũy những cuốn sách đã biến thư viện của ngài thành bộ sưu tập tư nhân quan trọng nhất thời bấy giờ. (31) Đó cũng là những năm ngài bắt đầu coi trọng đức tin Kitô giáo của mình hơn; và thực tế là vào một thời điểm nào đó trong thời gian lưu trú tại Rô-ma, ngài đã tìm kiếm phép rửa tội mà theo phong tục thời đó, cha mẹ ngài đã trì hoãn. Nhưng việc ngài gia nhập Kitô giáo khổ hạnh vẫn còn nhiều năm nữa mới diễn ra và có những dấu hiệu cho thấy việc theo đuổi học vấn nhiệt thành của ngài đôi khi bị gác lại để theo đuổi những thú vui không kém phần nhiệt thành nhưng kém cao thượng hơn, những cuộc phiêu lưu tình dục đã khiến ngài hối hận rất nhiều trong lương tâm.

Thánh Giê-rô-ni-mô và Sư tử. Colantonio (hoạt động khoảng 1420–1460). Bảo tàng Quốc gia Capodimonte, Naples, Ý. © Scala/Art Resource, New York.


Người ta biết rất ít về khoảng mười năm tiếp theo trong cuộc đời ngài. Có vẻ như trong một chuyến đi ở xứ Gaul, ngài đã định cư tại Trier, một thành phố thường được sử dụng làm thủ đô phía tây của Đế quốc trong thế kỷ thứ tư. Đây cũng là một trong những trung tâm ở phương Tây của phong trào đơn tu mới bắt đầu hình thành sau khi đã vững mạnh ở phương Đông. Trong thời gian lưu trú tại Trier—có thể để tìm kiếm một sự nghiệp trong chính phủ—và có lẽ bị ảnh hưởng bởi phong trào mới này, Thánh Giê-rô-ni-mô đã toàn tâm toàn ý cống hiến cho đời sống Kitô giáo và bắt đầu nghiên cứu kỹ lưỡng Kinh Thánh và thần học, đồng thời thực hành cầu nguyện và khổ hạnh ở mức độ cao. Sau đó, ngài trở về quê hương để thăm gia đình và bạn bè, và dừng chân tại thành phố Aquileia, cũng là một trung tâm của phong trào đơn tu. Ở đó, ngài ở cùng một người bạn là linh mục, Chrô-ma-xi-ô, người đã tổ chức gia đình mình thành một cộng đồng bán đan viện. Thánh Giê-rô-ni-mô thấy môi trường này vô cùng dễ chịu và chẳng mấy chốc đã tràn đầy nhiệt huyết với lối sống khổ hạnh mà bạn bè ngài thực hành. Đó là một khoảng thời gian hạnh phúc đối với Thánh Giê-rô-ni-mô nhưng nó không kéo dài. Ngài là một người có tính khí nóng nảy và cái lưỡi khó kiểm soát, hay nói những lời cay nghiệt. Một cuộc cãi vã nổ ra và Thánh Giê-rô-ni-mô thu dọn sách vở rồi lên đường về phía Đông, dự định đến thăm Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, chuyến hành trình dài bằng đường bộ qua Hy Lạp và Tiểu Á vô cùng gian khổ và khi đến nhà bạn mình là E-va-gri-ô ở An-ti-ô-ki-a, sức khỏe ngài đã suy yếu và không thể tiếp tục đến Giê-ru-sa-lem.

Có vẻ như chính vào thời điểm này, trong khi dưỡng bệnh giữa sự thoải mái của dinh thự E-va-gri-ô, được bao quanh bởi những cuốn sách yêu quý và những người bạn trí thức, Thánh Giê-rô-ni-mô đã đưa ra quyết định trọng đại của mình là hoàn toàn chấp nhận cuộc sống khổ hạnh. Trong một giấc mơ, ngài thấy mình bị kéo đến trước tòa phán xét cuối cùng và bị Thẩm phán buộc tội là môn đệ của Cicero chứ không phải của Chúa Kitô, rồi bị đánh đòn cho đến khi vai ngài bầm tím. Ngài bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tính sống động của giấc mơ đến nỗi ngài quyết định từ bỏ hoàn toàn các tác phẩm cổ điển ngoại giáo và cống hiến hết mình cho những điều thuộc về Chúa Kitô.

Hoàn toàn chuyển sang lý tưởng khổ hạnh, ngài đến sống ở sa mạc Syria không xa An-ti-ô-ki-a. Nhiều ẩn sĩ đã sống ở đó để tìm kiếm sự hiệp thông với Chúa bằng cách thực hành những hình thức khổ hạnh kỳ lạ nhất. Họ ngủ trên mặt đất trần, đeo xích, chỉ ăn chà là hoặc rau sống. Một số người, như Si-mê-ong nổi tiếng, thậm chí còn ngồi thường trực trên đỉnh những cột trụ vẫn còn đứng sừng sững giữa đống đổ nát của thời cổ đại. Trong chốn ẩn dật khô cằn, cháy nắng này, ông đã dành vài năm để cầu nguyện, học tập, khó khăn giữ cho thân xác và tâm hồn ở lại với nhau trong khi chống lại những ảo tưởng xấu xa nảy sinh từ trí tưởng tượng bị ám ảnh bởi tình dục của mình. “Mặc dù bạn đồng hành duy nhất của tôi là bọ cạp và thú hoang, nhưng hết lần này đến lần khác tôi lại cho lẫn vào những điệu nhảy của các cô gái.” (32) Để dập tắt ngọn lửa dục vọng, ngài đã tìm ra một phương thuốc độc đáo: việc học tiếng Do Thái! Với một người trở lại đạo từ Do Thái giáo làm gia sư, ngài bắt đầu học thứ ngôn ngữ khó nhá này. Thánh Giê-rô-ni-mô là người Kitô hữu La-tinh đầu tiên học tiếng Do Thái và “thực sự là người Kitô hữu đáng chú ý đầu tiên ngoài Origen (khoảng 185-khoảng 254).” (33) Khả năng thông thạo ngôn ngữ của ngài vượt xa Origen hay bất cứ nhà văn Kitô giáo nào khác trong nhiều thế kỷ sau đó và nó đã ảnh hưởng một cách quyết định đến sự nghiệp tương lai của ngài.

Mặc dù không mấy quan tâm đến suy lý thần học, Thánh Giê-rô-ni-mô không thể bỏ qua cuộc tranh luận lớn về bản tính của Thiên Chúa vẫn đang làm xáo trộn Giáo hội. Trên thực tế, những khác biệt về thần học với các đan sĩ đã khiến ngài rời khỏi sa mạc trở về An-ti-ô-ki-a, một thành phố bị chia thành nhiều phe phái về vấn đề A-ri-ô. Một trong những phe phái hoàn toàn theo phái A-ri-ô, nhưng ngay cả những người chính thống cũng bị chia rẽ giữa những người theo Pau-li-nô, vốn tuân thủ công thức do Công đồng Ni-xê-a quy định, và những người theo Mê-lê-xi-ô, những người đã áp dụng một nền thần học vượt ra ngoài Ni-xê-a khi gọi ba thành viên của Chúa Ba Ngôi là “ba ngôi vị [hypostases]”. Thánh Giê-rô-ni-mô theo chủ nghĩa bảo thủ đã đứng về phía Pau-li-nô, người đã phong chức linh mục cho ngài.

Cái chết của Hoàng đế Va-len tại A-dri-a-nốp năm 378 và sự lên ngôi của hai vị đồng hoàng đế theo tư tưởng Ni-xê-a, Gra-tian ở phía Tây và Thê-ô-đô-si-ô ở phía Đông, đã gây ra những ảnh hưởng lớn đến vận mệnh của các phe phái khác nhau. Dưới sự lãnh đạo của Thê-ô-đô-si-ô, một công đồng giáo hội đã được tổ chức tại Cons-tan-ti-nốp năm 381 (Công đồng Đại kết lần thứ hai), chứng kiến sự thắng lợi cuối cùng của nền chính thống Ni-xêa. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi những rối loạn không đáng có, công đồng đã chính thức tái khẳng định tín điều Ni-xê-a đồng thời công nhận thần học "ba ngôi vị" theo những thuật ngữ được phương Tây chấp nhận. Đồng thời, công đồng đã ủng hộ phe Mê-lê-xi-ô tại An-ti-ô-ki-a, điều này chắc chắn đã khiến Thánh Giê-rô-ni-mô thất vọng, mặc dù ngài đang cư trú tại Cons-tan-ti-nốp vào thời điểm diễn ra công đồng, nhưng ngài không đề cập đến nó trong các tác phẩm của mình.

Trong khi đó, Thánh Giê-rô-ni-mô đã bắt đầu sự nghiệp văn chương bằng cách xuất bản một số tác phẩm giúp ngài được biết đến rộng rãi. Một trong những công trình đó là bản dịch từ tiếng Hy Lạp, với nhiều bổ sung và chỉnh sửa, cuốn Biên niên sử của Eu-sê-bi-ô thành Xê-da-rê (mất năm 340). Đây là nỗ lực thành công nhất trong việc biên soạn lịch sử thế giới cho đến thời điểm đó và nhờ những nỗ lực của Thánh Giê-rô-ni-mô, nó đã trở thành một trong những cuốn sách phổ biến nhất thời Trung cổ. Một dự án khác mà ngài thực hiện vào thời điểm này—dịch 37 bài giảng của Origen—cho thấy một mối quan tâm trí thức đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển trí thức và tâm linh của ngài. Thánh Giê-rô-ni-mô bị cuốn hút bởi các tác phẩm của Origen vì những lý do hiển nhiên. Là một học giả Kinh thánh, một nhà thần học suy lý táo bạo và một nhà bác học uyên bác, Origen (mất khoảng năm 254) là bộ óc vĩ đại nhất mà Giáo hội sản sinh ra trước Cons-tan-ti-nô. Ban đầu, sự nhiệt tình của Thánh Giê-rô-ni-mô đối với Origen là vô bờ bến và ngài thường xuyên mượn ý tưởng từ các tác phẩm của bậc thầy này. Sau đó, khi một phong trào chống Origen mạnh mẽ nổi lên trong Giáo hội, Thánh Giê-rô-ni-mô đã thay đổi quan điểm và giảm nhẹ món nợ to lớn của mình đối với thiên tài người A-léc-xan-ri-a.

Năm 382, Thánh Giê-rô-ni-mô rời Cons-tan-ti-nốp đến Rô-ma cùng với giám mục của mình, Pau-li-nô, và bắt đầu một trong những chương quan trọng và đầy biến động nhất trong cuộc đời ngài. Mọi việc khởi đầu khá suông sẻ khi Đức Giáo Hoàng đương nhiệm, Đa-ma-sô (mất năm 384), nhận ngài vào phục vụ và trở thành một thành viên trong nhóm cố vấn thân cận của mình. Vị Giáo hoàng này, người được bầu chọn vào năm 382 trong một cuộc tranh giành ồn ào với những cuộc ẩu đả giữa các phe phái đối địch, bản thân ngài cũng là một học giả xuất chúng và là người bảo trợ cho việc học tập. Đa-ma-sô rất ấn tượng với kiến thức uyên bác và khả năng thông thạo tiếng Do Thái của Thánh Giê-rô-ni-mô và thường xuyên tham khảo ý kiến ngài về các vấn đề giải thích Kinh Thánh. Trên thực tế, chính theo yêu cầu của Đức Giáo Hoàng mà Thánh Giê-rô-ni-mô bắt đầu công việc sau này trở thành thành tựu lâu dài nhất của ngài: bản dịch Kinh Thánh từ các ngôn ngữ gốc. Cho đến thời điểm này, các tín hữu Ki-tô giáo có trong tay một bản dịch Kinh Thánh gọi là tiếng La-tinh cổ, phần Cựu Ước của bản dịch này không dựa trên bản gốc tiếng Do Thái mà dựa trên bản dịch tiếng Hy Lạp được gọi là Bản Bẩy Mươi (Septuagint). Bản dịch tiếng La-tinh cổ này ở trong tình trạng rất hỗn loạn với nhiều biến thể đã len lỏi vào văn bản. Đức Giáo Hoàng không muốn một bản dịch hoàn toàn mới mà chỉ muốn Thánh Giê-rô-ni-mô sắp xếp lại các bản đọc khác nhau và thiết lập một phiên bản chuẩn dựa trên sự so sánh với các ngôn ngữ gốc. Đó là một công việc mà ngài phải mất hơn hai mươi năm để hoàn thành, và khi ở Rô-ma, ngài chỉ hoàn thành bốn sách Tin Mừng. Hơn nữa, ngài sớm từ bỏ ý tưởng chỉ đơn giản là sửa đổi bản dịch Cựu Ước hiện có. Ngài quyết định bắt đầu lại từ bản gốc tiếng Do Thái và tạo ra một bản dịch hoàn toàn mới. Đây là một việc làm can đảm, vì cách diễn đạt mới của ngài về nhiều bản đọc Kinh Thánh đáng kính đã gây sốc cho sự nhạy cảm của các tín hữu và ngài đã bị lên án gay gắt trên khắp thế giới Kitô giáo. Ngay cả Thánh Au-gus-ti-nô, như chúng ta sẽ thấy, cũng cho rằng bản dịch mới là không cần thiết. Thánh Giê-rô-ni-mô đau lòng nhưng không ngạc nhiên trước phản ứng đó và gọi những người chỉ trích mình là “những con chó tru lên hung dữ chống lại tôi”. (34)

Nhưng bản dịch của ngài dần dần được đón nhận và được công nhận là văn bản tiếng La-tinh tiêu chuẩn, hay “Vulgate [bản Phổ thông]”, của Kinh Thánh. Ảnh hưởng của nó đối với trí tưởng tượng tôn giáo và văn học của phương Tây là vô cùng to lớn.

Trong thời gian làm việc cho Đức Giáo Hoàng, Thánh Giê-rô-ni-mô đã làm quen với một số phụ nữ Rô-ma giàu có, thuộc tầng lớp quý tộc, những người đang thực hành một hình thức sơ khai của điều sau này được gọi là đời sống tu viện. Các nữ tu theo nghĩa chặt chẽ chưa tồn tại, nhưng những người phụ nữ này là những người tiền thân của họ; họ sống ẩn dật, thề nguyện sống độc thân và dành thời gian cho việc học tập và cầu nguyện. Vững vàng trong niềm tin rằng khổ hạnh là hình thức hoàn hảo nhất của đời sống Kitô giáo, và đồng thời cảm thấy sâu sắc nhu cầu có bạn đồng hành của phụ nữ, Thánh Giê-rô-ni-mô rất vui mừng được kết bạn với những người phụ nữ này, những người đã mời ngài trở thành thầy dạy và người hướng dẫn tâm linh của họ. Đặc biệt với hai người trong số họ, Pau-la và con gái của bà, Eus-tô-chi-um, ngài đã hình thành một tình bạn vô cùng thân thiết và lâu dài. Để khuyến khích họ kiên trì với lối sống đã chọn, ngài đã biên soạn một số luận văn hùng hồn nhất của mình về ơn gọi khổ hạnh. Trong các luận văn này, Thánh Giê-rô-ni-mô liên tục đề cao trinh tiết như là trạng thái duy nhất thích hợp trong cuộc sống của người Kitô hữu tận tụy; đó là trạng thái nguyên thủy mà Chúa đã muốn trước cuộc Sa ngã, trong khi quan hệ tình dục và hôn nhân nên được coi là sự lựa chọn thấp kém hơn, một trong những hậu quả bất hạnh do tội nguyên tổ gây ra. Trong một trong những cuốn sách nhỏ của ngài, Chống lại Jô-vi-ni-a-nô, Thánh Giê-rô-ni-mô đã quá say sưa và đi sâu vào những khía cạnh khó chịu của hôn nhân bằng những lời lẽ thô thiển và thái quá đến nỗi ngay cả bạn bè của ngài cũng cảm thấy xấu hổ và cần phải phản đối ngài. Phản ứng của Thánh Giê-rô-ni-mô rất đặc trưng:

Để làm rõ ý tôi, tôi xin nói rằng tôi thực sự muốn thấy mọi người đàn ông lấy vợ—kiểu người đàn ông sợ bóng tối và không thể nằm một mình trên giường. (35)

Nhiều tín hữu Kitô giáo Rô-ma thời đó khá lạnh nhạt với cuộc thập tự chinh của Thánh Giê-rô-ni-mô về khổ hạnh và trinh tiết, mà họ coi là cực đoan. Một trong số đó là một giáo dân, Hel-vi-đi-ô, người trong bài phản bác Thánh Giê-rô-ni-mô được xuất bản của mình đã cố gắng chứng minh rằng ngay cả Đức Mẹ Maria sau khi sinh Chúa Giêsu cũng sống một cuộc sống hôn nhân bình thường với Thánh Giuse. Cuộc tấn công vào sự trinh tiết vĩnh viễn của Mẹ Thiên Chúa đã khiến Thánh Giê-rô-ni-mô nổi cơn thịnh nộ tột độ, và ngài đã trút cơn thịnh nộ đó vào bài đáp trả của mình, Chống lại Hel-vi-đi-ô. Mặc dù được điểm xuyết bằng những lời lẽ xúc phạm vô căn cứ mà Thánh Giê-rô-ni-mô dễ dàng thốt ra, nhưng nó vẫn đủ uyên bác và thuyết phục để thuyết phục hầu hết những người đương thời của ngài và đánh bại Hel-vi-đi-ô.

Từ đó về sau, trinh tiết vĩnh viễn của Đức Mẹ Maria trở thành một giáo lý bất khả xâm phạm của Công Giáo. Cuốn sách nhỏ này cũng thành công trong việc thuyết phục nhiều người chấp nhận quan điểm của Thánh Giê-rô-ni-mô về đời sống thánh hiến độc thân như một bậc sống cao cả hơn – một giáo lý có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nền linh đạo Công Giáo và đạo đức tình dục của Giáo hội.

Chừng nào vị giáo hoàng bảo trợ của ngài, Đức Giáo Hoàng Đa-ma-sô, còn sống, Thánh Giê-rô-ni-mô có thể tiếp tục chiến dịch khổ hạnh của mình mà không gặp quá nhiều trở ngại. Nhưng với cái chết của vị giáo hoàng, tình hình của ngài đã thay đổi hoàn toàn. Nhiều thành viên của Giáo hội ở Rô-ma tởm gớm những quan điểm cực đoan của ngài; họ coi kiểu khổ hạnh của ngài là cuộc xâm nhập từ phương Đông. Ngài cũng tạo ra nhiều kẻ thù bởi những cuộc tấn công thường xuyên vào những người Kitô hữu truyền thống, những người mà với sự xuất hiện của Kitô giáo đại chúng thời Cons-tan-ti-nô, giờ đây đã trở nên rất đông đảo xung quanh ngài. Thánh Giê-rô-ni-mô tìm thấy nhiều mục tiêu cho tài năng châm biếm của mình và thỏa sức thể hiện nó, không hề khoan nhượng khi ngài công kích các giám mục thế tục sống trong xa hoa, các linh mục nịnh bợ người giàu và những trinh nữ giả tạo diễu hành trong đám thanh niên ăn diện. Với việc Đức Si-ri-xi-ô (384–399) lên ngai các tông đồ, kẻ thù của ngài đã phản công. Các thẩm quyền đã đưa ra một số cáo buộc chính thức chống lại ngài, trong đó có cả mối quan hệ của ngài với Pau-la; và Thánh Giê-rô-ni-mô, dù phẫn nộ bác bỏ lời buộc tội, vẫn thấy cần thiết hoặc khôn ngoan phải rời khỏi thành phố vĩnh cửu.

Pau-la và Eus-tô-chi-um đã đi theo ngài và sau khi gia nhập đoàn của ngài —có lẽ tại An-ti-ô-ki-a—họ bắt đầu cuộc hành hương đến Đất Thánh. Hê-lê-na, mẹ của Cons-tan-ti-nô, ở tuổi già đã thực hiện một cuộc hành hương đến Pa-les-tine vào năm 326 và với sự giúp đỡ của con trai mình, bà đã thực hiện một chương trình phục hồi các địa điểm linh thiêng tưởng nhớ Chúa Giêsu và trang hoàng hai trong số đó, trên Núi Ô-liu và tại Bê-lem, bằng những vương cung thánh đường nguy nga. Hành động của bà đã tạo động lực lớn cho việc viếng thăm Đất Thánh và vào thời Thánh Giê-rô-ni-mô, những cuộc hành hương như vậy đã trở nên khá phổ biến. Thánh Giê-rô-ni-mô và các bạn đồng hành đã thực hiện một chuyến tham quan rộng khắp các địa điểm linh thiêng và học giả cần mẫn này đã lập một danh mục rất chi tiết về chúng, bao gồm cả mô tả về Nhà thờ Phục Sinh do Cons-tan-ti-nô xây dựng ở Giê-ru-sa-lem trên hang động liên quan với sự phục sinh của Chúa Giê-su và Nhà thờ Giáng Sinh do Hê-lê-na xây dựng trên hang động mà truyền thống cổ xưa coi là nơi sinh của Người.

Ba vị hành hương bị mê hoặc bởi những gì họ thấy ở Đất Thánh và sau một chuyến đi ngắn đến thăm các đan sĩ ở sa mạc Ai Cập, họ quyết định ở lại đó vĩnh viễn. Trên hết, họ bị cuốn hút bởi Bê-lem với hang động Giáng Sinh, và họ quyết định định cư ở đó vào năm 386 và theo lối sống đơn tu. Bạn của Thánh Giê-rô-ni-mô, Ru-fi-nô và Mê-la-ni-a, đã thành lập các đan viện dành cho những người khổ hạnh nói tiếng La-tinh, riêng biệt cho nam và nữ, ở Giê-ru-sa-lem trên Núi Ô-liu, và Thánh Giê-rô-ni-mô và Pau-la rất muốn thử ý tưởng tương tự. Hai đan viện của họ cuối cùng đã được xây dựng và, nhờ danh tiếng của những người sáng lập, đã sớm thu hút một số lượng lớn người gia nhập. Họ dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của các đan sĩ Ai Cập để làm cơ sở cho quy tắc sống của mình. Thánh Giê-rô-ni-mô đã tự do điều chỉnh kiểu đời sống đơn tu do Thánh Pa-chô-mi-ô khởi xướng ở Ai Cập, và sau này ngài đã dịch Quy tắc của vị thánh này. Đan viện quy định một lịch trình sinh hoạt cộng đồng có trật tự cho các đan sĩ, những người sống trong các phòng riêng nhưng ăn uống chung, lao động chân tay để tự nuôi sống bản thân và cầu nguyện đều đặn suốt cả ngày. Vào thời điểm này, đời sống đơn tu đã bén rễ vững chắc ở phương Đông, nhưng mặc dù được phổ biến rộng rãi, đặc biệt là qua bản dịch tác phẩm "Cuộc đời Thánh An-tôn" của Thánh A-tha-na-si-ô, nó vẫn chưa phát triển mạnh ở phương Tây. Các cộng đồng đơn tu của Thánh Giê-rô-ni-mô và Ru-fi-nô, những người đã điều chỉnh đời sống đơn tu Ai Cập cho phù hợp với tinh thần La-tinh, được quảng bá rộng rãi, đặc biệt là thông qua các tác phẩm và thư từ của Thánh Giê-rô-ni-mô, và được nhiều người hành hương từ phương Tây đến thăm. Không nghi ngờ gì nữa, họ đã đóng góp rất lớn vào sự lan rộng của đời sống đơn tu ở phương Tây trong thế kỷ thứ năm.

Việc thành lập các đan viện là một giấc mơ thành hiện thực đối với Thánh Giê-rô-ni-mô, và bất chấp mọi khó khăn và lo lắng—đặc biệt là về tài chính—ngài vẫn tiếp tục cai quản và hướng dẫn các đan sĩ của mình trong ba mươi năm cho đến khi qua đời. Trong thời gian đó, ngài đã viết ra một lượng lớn các tác phẩm, góp phần khẳng định danh tiếng của ngài như là học giả uyên bác nhất trong Giáo hội sơ khai. Ngài đã hoàn thành bản dịch Kinh Thánh đồ sộ từ nguyên bản tiếng Do Thái, đồng thời viết các bài bình luận về Kinh Thánh, tạo nên một khối lượng công việc khổng lồ—bao gồm nhiều sách trong Cựu Ước và Tân Ước. Ngoài ra, ngài còn dịch nhiều tác phẩm thần học, biên soạn một số tác phẩm tham khảo bách khoa toàn thư, viết tiểu sử về các nhà tu khổ hạnh Kitô giáo nổi tiếng, và biên soạn một lịch sử tóm lược về văn học Kitô giáo, Những Người Nổi Tiếng, trở thành văn bản chuẩn mực về chủ đề này. Ngài cũng duy trì thư từ sôi nổi với nhiều nhân vật hàng đầu đương thời và những bức thư của ngài là nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử thời đại của ngài.

Tranh luận là hơi thở của cuộc đời Thánh Giê-rô-ni-mô, và ngay cả khi tận tâm với cuộc sống được cho là yên bình của một đan sĩ, ngài vẫn lao vào một số cuộc tranh cãi dữ dội làm ồn ào cả Giáo hội. Một trong những cuộc tranh cãi đó liên quan đến người bạn thời thơ ấu của ngài, Ru-fi-nô, người đứng đầu đan viện La-tinh lân cận ở Giê-ru-sa-lem. Không nghi ngờ gì nữa, một số căng thẳng ban đầu giữa hai người đã xảy ra khi Thánh Giê-rô-ni-mô có thái độ kẻ cả đối với tinh thần thoải mái hơn phổ biến trong các đan viện của Ru-fi-nô và Mê-la-ni-a, và khi Ru-fi-nô phàn nàn về sự táo bạo của Thánh Giê-rô-ni-mô trong việc xuất bản một bản dịch Kinh Thánh hoàn toàn mới. Nhưng vấn đề dẫn đến sự rạn nứt lâu dài giữa hai đan sĩ là chủ nghĩa Origen. Cả hai đều là những người ngưỡng mộ bậc thầy này từ lâu; nhưng khi một phong trào chống Origen mạnh mẽ nổi lên trong Giáo hội, Thánh Giê-rô-ni-mô đã đứng về phía chống Origen và buộc tội Ru-fi-nô và giám mục của ông này, Gio-an Thành Giê-ru-sa-lem, đã thông đồng để truyền bá những giáo lý dị giáo của Origen. Gio-an đáp lại bằng cách rút phép thông công Thánh Giê-rô-ni-mô và vào năm 397 thậm chí còn cố gắng đuổi ông khỏi giáo phận của mình bằng vũ lực. Một thỏa thuận ngừng chiến đã được dàn xếp trong một thời gian, nhưng cuộc chiến lại nổ ra khi Ru-fi-nô, lúc này đang cư trú tại Rô-ma, xuất bản bản dịch tác phẩm đầu tay của Origen, "Những nguyên tắc thứ nhất", và kèm theo lời tựa nhắc lại việc chính Thánh Giê-rô-ni-mô đã thường xuyên hết lời ca ngợi Origen.

Thánh Giê-rô-ni-mô kinh hoàng trước lời ám chỉ rằng ngài có thể có thiện cảm với những quan điểm dị giáo của Origen và ngài đã lập tức viết những bài luận đầy giận dữ. Hai người bạn cũ giờ đây công kích nhau dữ dội trong những cuốn sách nhỏ đầy những lời buộc tội và phản bác. Cuối cùng Ru-fi-nô đã chấm dứt và ngừng nhắc đến Thánh Giê-rô-ni-mô trong các tác phẩm của mình, nhưng Thánh Giê-rô-ni-mô không phải là người dễ dàng bỏ cuộc. Ngài tiếp tục lăng mạ Ru-fi-nô và ngay cả khi nghe tin người đàn ông này qua đời vào năm 411, ngài vẫn không thể kìm lòng mà buông lời nhận xét về "Con bọ cạp Ru-fi-nô... được chôn cất cùng với những người anh em khổng lồ của nó, En-ce-la-đô và Por-phy-ri-on - con thủy quái nhiều đầu đó cuối cùng đã ngừng rít lên." (36)

Thánh Giê-rô-ni-mô cũng đóng một vai trò không mấy tốt đẹp trong cuộc tranh chấp giữa vị thượng phụ xảo quyệt của A-léc-xan-ri-a, Thê-ô-phi-lô (mất năm 412) và vị thượng phụ thánh thiện của Cons-tan-ti-nốp, Gio-an, được biết đến với tên Chrysostom (“Người có lưỡi vàng”) (mất năm 407), nổi tiếng về tài hùng biện và sự thông thạo Kinh Thánh. Thê-ô-phi-lô, một kẻ vô lương tâm, đã lợi dụng tình cảm chống Origen của Thánh Giê-rô-ni-mô và giành được sự giúp đỡ của ngài trong các mưu đồ nhằm làm nhục giáo phận Cons-tan-ti-nốp, đối thủ của A-léc-xan-ri-a, bằng cách phế truất vị giám mục cứng đầu của giáo phận này. Gio-an đã làm mất lòng một bộ phận lớn dân chúng, bao gồm cả giới giáo sĩ, và Hoàng hậu Eu-đô-xi-a bằng những lời lên án thẳng thắn về tệ nạn và bị kết tội theo chủ nghĩa Origen và các tội danh khác trong một phiên tòa lố bịch tại Thượng hội đồng Cây Sồi (403) do Thê-ô-phi-lô chủ trì. Gio-an bị lưu đày nhưng sớm được triệu hồi. Tuy nhiên, ngài lại sớm gây thù chuốc oán với Eu-đô-xi-a và kẻ thù của ông đã khiến ông bị đày đến Pon-tus, nơi cuối cùng ông bị giết một cách cố ý bằng cách bị ép đi bộ trong thời tiết khắc nghiệt.

Tính hay gây gổ và nhạy cảm của Thánh Giê-rô-ni-mô cũng thể hiện rõ trong thư từ trao đổi với Thánh Au-gus-ti-nô, nhà thần học vĩ đại người châu Phi và sau này, cũng như Thánh Giê-rô-ni-mô, là một tiến sĩ Giáo hội. Mọi chuyện bắt đầu khi vị học giả trẻ tuổi hơn—mong muốn kết bạn với nhà bác học về tiếng Do Thái—đã viết thư cho Thánh Giê-rô-ni-mô để xin lời khuyên về các vấn đề thần học. Ngài cũng cả gan bất đồng quan điểm với một số ý kiến Kinh Thánh của Thánh Giê-rô-ni-mô và thậm chí tệ hơn đã đặt câu hỏi về tính đúng đắn của dự án lớn lao của Thánh Giê-rô-ni-mô—việc dịch Kinh Thánh từ bản gốc tiếng Do Thái. Giống như nhiều người đương thời khác, Thánh Au-gus-ti-nô cho rằng thế giá của bản tiếng Latinh cổ không nên bị thách thức vì nó dựa trên bản Bẩy Mươi tiếng Hy Lạp, vốn được coi là bản dịch được Thiên Chúa linh hứng. Hơn nữa, nó đã được thánh hiến qua thời gian dài sử dụng trong đời sống và cầu nguyện của Giáo hội đến nỗi Thánh Au-gus-ti-nô cảm thấy rằng bất cứ nỗ lực nào nhằm thay đổi nó sẽ gây xáo trộn nghiêm trọng cho các tín hữu. Thánh Giê-rô-ni-mô khá bực mình trước điều mà ngài cho là sự xấc xược của người trẻ tuổi hơn và buộc tội vị này đang cố gắng tạo dựng danh tiếng cho mình bằng cách thách thức một nhân vật nổi tiếng và có uy tín như mình. Hai người chỉ dần dần hiểu nhau, một phần do sự nhầm lẫn gây ra bởi những sai sót trong việc gửi thư, với những lá thư sau đến trước những lá thư trước. Nhưng về lâu dài, Thánh Au-gus-ti-nô đã khéo léo làm dịu đi tính khí nóng nảy của vị học giả Kinh Thánh già nua bằng tài ngoại giao và sự tế nhị bậc thầy. Ngài xin vị lớn tuổi hơn tha thứ, bày tỏ lòng kính trọng đối với kiến thức Kinh Thánh vô song của ngài, và chỉ xin được phép ngồi dưới chân ngài và học hỏi từ ngài. Thánh Giê-rô-ni-mô vô cùng cảm động và đáp lại bằng những lời lẽ trìu mến và kính trọng dành cho Thánh Au-gus-ti-nô.

Một cái nhìn thoáng qua đáng lưu ý về sự phát triển lòng mộ đạo của Giáo hội thời Thánh Giê-rô-ni-mô được cung cấp nhờ cuốn sách nhỏ của ngài có tựa đề "Chống lại Vi-gi-lan-xi-ô", trong đó ngài bảo vệ phong tục ngày càng phổ biến là tôn kính thánh tích của các vị tử đạo và thánh nhân, thắp nến tại các đền thờ của các ngài, cầu xin sự can thiệp của các ngài trong lời cầu nguyện cũng như việc giữ lễ canh thức tại nơi chôn cất của các ngài. Ngài đặt biệt danh cho đối thủ là “Dormitianus” (kẻ ngủ gật) và pha trộn những lập luận học thuật nghiêm túc với những lời lẽ thô tục, nhắm thẳng vào đối thủ. Tập sách nhỏ này được đọc rộng rãi và đóng góp quan trọng vào sự chấp nhận rộng rãi các thực hành này trong Giáo hội.

Cuộc tranh luận cuối cùng mà Thánh Giê-rô-ni-mô tham gia liên quan đến chiến dịch do Pê-la-gi-ô, một nhà thần học và tu sĩ người Anh, tiến hành để ủng hộ quan điểm của ông về ân sủng, ý chí tự do và tội nguyên tổ. Giống như người đồng nghiệp Au-gus-ti-nô, Thánh Giê-rô-ni-mô vô cùng băn khoăn trước việc Pê-la-gi-ô dường như phủ nhận tác động tàn phá của tội nguyên tổ đối với ý chí tự do của chúng ta, phủ nhận nhu cầu cần sự giúp đỡ của Chúa để tránh tội lỗi và khẳng định rằng chúng ta có thể tự mình đạt được ơn cứu rỗi bằng nỗ lực của bản thân. Thánh Giê-rô-ni-mô và Thánh Au-gus-ti-nô đã hợp lực chống lại Pê-la-gi-ô và những bức thư của các ngài vào thời điểm này cho thấy các ngài đang có một tình bạn thân thiết. Vị đan sĩ già của Bê-lem giờ đây đã sẵn sàng nhường bước cho vị giám mục lỗi lạc của Hippo, người mà ngài đã hết lòng kính trọng và ngưỡng mộ về kiến thức và tính chính thống.

Những năm cuối đời của Thánh Giê-rô-ni-mô bị bao phủ bởi một loạt sự kiện khủng khiếp báo hiệu sự kết thúc của Đế quốc Rô-ma. Khắp nơi, các đạo quân man rợ phá vỡ phòng tuyến và tàn phá bằng lửa và gươm. Người Pict, người Scot và người Saxon tràn vào Anh; người Frank, người Burgundy, người Alemanni, người Hun, người Visigoth và người Vandal tàn phá xứ Gaul; người Suevi, người Vandal và người Visigoth tàn phá Tây Ban Nha; người Vandal tàn phá châu Phi; người Ostrogoth tàn phá Ý. Sau đó, Alaric và người Ostrogoth của ông chiếm lấy chính kinh đô và cướp bóc Rô-ma trong ba ngày. Thánh Giê-rô-ni-mô chết lặng vì kinh hoàng trước tin tức này: “Ngọn đèn của thế giới đã tắt, và cả thế giới đã diệt vong trong đống đổ nát của thành phố này.” (37)

Bạo lực cũng xảy ra ở Bê-lem. Năm 416, Thánh Giê-rô-ni-mô buộc phải chạy trốn để bảo toàn mạng sống khi đan viện của ngài bị một nhóm côn đồ – có lẽ là những tín đồ cuồng tín của Pê-la-gi-ô – chiếm giữ và thiêu rụi. Nhưng nỗi buồn lớn nhất của ngài là cái chết của hai người có ý nghĩa nhất đối với ngài. Năm 404, người bạn thân thiết và đồng nghiệp của ngài, Pau-la, qua đời, khiến Thánh Giê-rô-ni-mô hoàn toàn suy sụp vì đau buồn. Và chỉ một năm trước khi ngài qua đời vào năm 420, con gái của Pau-la, Eus-tô-chi-um, người mà Thánh Giê-rô-ni-mô cũng vô cùng yêu thương, lâm bệnh và qua đời – một cú sốc khiến ngài hoàn toàn suy sụp. Hoàn cảnh cái chết của ngài một năm sau đó vẫn chưa được biết rõ. Chúng ta chỉ biết rằng ngài được chôn cất gần mộ của Pau-la và Eus-tô-chi-um trong Nhà thờ Giáng Sinh thân yêu của họ, cách nơi được coi là thánh địa của sự ra đời của Chúa Kitô vài mét.

Trong ký ức của các thế hệ sau, vị thế của Thánh Giê-rô-ni-mô tiếp tục được củng cố cho đến khi cuối cùng ngài được công nhận là Tiến sĩ và Giáo phụ của Giáo hội nhờ những đóng góp to lớn từ bản dịch Kinh Thánh và các bài bình luận của ngài, từ các tác phẩm thần học và lịch sử đa diện, từ ảnh hưởng lớn lao của ngài đến sự phát triển của thần học và linh đạo Công Giáo về Đức Mẹ Maria, và từ động lực mà ngài đã mang lại cho lối sống đơn tu phương Tây. Mặt tối trong tính cách của ngài – sự bất dung thứ và cố chấp tàn bạo, những cơn giận dữ khó chịu, những biểu hiện kiêu ngạo thô thiển, niềm vui thích hạ bệ kẻ thù bằng mọi cách – dường như đã được che đậy; và hậu thế thậm chí còn phong cho ngài danh hiệu "thánh" - có lẽ là đúng đắn, vì ít nhất không ai có thể phủ nhận sự chân thành cháy bỏng và lòng tận tụy kiên định mà ngài thể hiện trong việc thực hiện cam kết của mình với Chúa Kitô.