John M. Grondelski, trong bản tin Thứ Ba, ngày 14 tháng 7 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, cho hay: Magnifica humanitas, thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, phần lớn được công chúng hiểu là đề cập đến trí tuệ nhân tạo. Quan điểm của công chúng là, giống như vị giáo hoàng tiền nhiệm cách đây 135 năm trong Rerum Novarum, Đức Giáo Hoàng Prevost dự định đề cập đến “những điều mới mẻ” của thế kỷ 21.

Trích lời Abraham Lincoln: “Có một phần sự thật trong điều này…” Nhưng xin tiếp tục trích dẫn lời ông, “…tôi rất vui vì điều đó, nhưng nó không HOÀN TOÀN đúng.” (nhấn mạnh trong bản gốc)

Thậm chí có những người muốn diễn giải Magnifica humanitas như một sự từ bỏ “thần học vùng chậu” của Đức Giáo Hoàng để ủng hộ “công lý xã hội”.

Điều đó ít đúng hơn nhiều.

Trong khi Đức Giáo Hoàng tìm cách giải quyết những “điều mới mẻ”, những người quản lý tốt biết cách đưa ra khỏi kho tàng của Giáo hội “những điều cũ và mới”. (Mt 13:52) Vâng, chúng ta cần giải quyết những “điều mới mẻ”. Nhưng chúng ta giải quyết chúng bằng sự khôn ngoan của thời xưa.

Tuy nhiên, điểm quan trọng hơn trong thông điệp Magnifica humanitas là một chân lý nhân học quan trọng hơn: con người không thể bị thay thế. Con người là không thể thay thế được. Như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta, con người là sinh vật duy nhất trên trái đất mà Thiên Chúa muốn vì chính nó. (Gaudium et spes, 24)

Thách thức mà trí tuệ nhân tạo đặt ra, trên phương diện thực tiễn, là khả năng gây ra tình trạng thất nghiệp ở con người do việc kỹ thuật hóa công việc, đặc biệt là các công việc cơ bản thường được coi là “công việc cấp thấp”. Điều đó đặc biệt đe dọa các nhóm dân số dễ bị tổn thương: những người trẻ tuổi đang cố gắng gia nhập thị trường lao động; những người thiếu kinh nghiệm; và những người chưa được đào tạo. Nếu như cách đây một thập niên, một thái độ tự mãn nào đó bảo những người thợ mỏ “học lập trình”, thì ngày nay, câu trả lời ngạo mạn có thể là “trau dồi kỹ năng pha chế cà phê của bạn”.

Việc làm và thất nghiệp không chỉ là hiện tượng kinh tế bởi vì công việc (như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lưu ý cách đây 45 năm trong thông điệp Laborem exercens) không chỉ là một yếu tố chi phí. Việc làm là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển toàn diện của con người (đây là một phạm trù lớn hơn và quan trọng hơn cả sự thịnh vượng kinh tế, mặc dù chúng không loại trừ lẫn nhau).

Con người cần phải làm việc. Một xã hội tước đoạt việc làm của con người – nhân danh một tầm nhìn không tưởng hoặc để tối đa hóa lợi nhuận – là một xã hội vô nhân đạo. Và chúng ta đừng để một số người coi nhẹ sự thật đó chỉ vì họ không chịu thừa nhận điều họ muốn là một xã hội hoàn toàn do kinh tế chi phối. Như câu ngạn ngữ xưa, đó là những người biết giá của mọi thứ nhưng không biết giá trị của bất cứ thứ gì.

Trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra một thách thức lý thuyết. Kể từ thời Pla-tông – và đặc biệt là từ thời Descartes – đã có một cám dỗ khi nghĩ về con người như một tâm trí chỉ đơn thuần trú ngụ trong một cơ thể. Chủ nghĩa siêu nhân bản đương thời chỉ đơn giản là cực đoan hóa sai lầm đó bằng cách tưởng tượng ra ý thức tách rời khỏi thể xác.

Thánh Giuse Thợ, Pietro Annigoni, 1964 [Vương cung thánh đường San Lorenzo, Florence, Ý]


Nhân học Kitô giáo nhấn mạnh thay thế rằng con người là một thể thống nhất có thể xác, phẩm giá của họ không thể bị thu hẹp thành thông tin hay tính toán. (Tất nhiên, theo một số nhà thần học thời kỳ đầu, chính trạng thái nhập thể đó đã gây ra cuộc nổi loạn của ma quỷ). Việc một số người theo chủ nghĩa “siêu nhân bản” có những hình dung về tâm trí tách rời khỏi thể xác cho thấy mối đe dọa lý thuyết vẫn còn tồn tại.

Vấn đề cốt lõi không phải là kỹ thuật: mà là nhân tính.

Oren Cass đã nắm bắt được vấn đề này trong những suy tư của ông về câu hỏi thường gặp trong các biến cố xã hội, “Bạn làm gì?” Cass nhận thấy rằng câu hỏi này thường có chức năng phân loại con người: làm X sẽ mang lại cho bạn uy tín đặc biệt, làm Y thì bình thường [meh] thôi (ngoại trừ khi những người có uy tín đặc biệt cần giao đồ ăn, sửa chữa đường ống nước hoặc công việc điện).

Rất ít người đặt câu hỏi từ quan điểm giá trị nhân học Kitô giáo về lao động, tức là, con người bạn được phát biểu như thế nào trong những việc bạn làm?

Một chân lý quan trọng của thông điệp Magnifica humanitas là tính trung tâm và không thể thay thế của con người. Con người không chỉ là một người suy nghĩ mà máy móc có thể thay thế. Con người không chỉ là một người lao động mà robot nên thay thế. Thông điệp đặt ra câu hỏi: bạn có nghĩ rằng sự khác biệt về chất lượng của một người quan trọng hơn khả năng thay thế về chức năng kỹ thuật-kinh tế của người đó không? Một người có hơn cả một bánh răng trong kế hoạch vĩ đại của ai đó không?

Bởi vì con người không phải là một bánh răng trong kế hoạch của Chúa. Đúng vậy, Chúa đã tạo ra con người và thậm chí giao cho họ công việc, không phải để trừng phạt tội lỗi, mà vì điều đó thiết yếu đối với bản chất và vai trò của họ với tư cách là hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa. Vị trí của con người trong vũ trụ của Chúa là một người tự do, yêu thương được mời gọi tham gia vào tình yêu tự do và vĩnh cửu với Ba Ngôi Yêu Thương. Đó là thông điệp cứu rỗi. Nó khác biệt về cơ bản so với con người như một công cụ của Chúa.

Ở mức độ mà Magnifica humanitas minh họa cách trí tuệ nhân tạo có thể đe dọa chân lý đó, nó hé lộ một góc nhìn về một câu hỏi lớn hơn được Đức Giáo Hoàng trả lời từ quan điểm Kitô giáo: con người là ai? Nhưng câu hỏi đó không chỉ liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Nó còn bị đe dọa trong tư duy “thuốc viên”. Điều này tìm được tiếng vang trong các biện pháp tránh thai của những năm 1960 và các loại thuốc phá thai như mifepristone và misoprostol ngày nay. Quan điểm đó cho rằng các vấn đề của con người và hậu quả của những lựa chọn của con người có thể được giải quyết bằng một loại “thuốc viên” nào đó. Nó vang vọng trong các tiểu văn hóa ma túy và rượu, nơi người ta cho rằng hạnh phúc của con người có thể được tạo ra bằng hóa chất trong một thời gian ngắn.

Nó liên quan đến điều mà Tổng giám mục Nam Phi Denis Hurley từng gọi là “sự cần thiết của kỹ thuật” và nhà văn Walker Percy gọi là “sự yêu thích kỹ thuật” – ý tưởng cho rằng nếu chúng ta có thể làm điều gì đó, chúng ta có thể, thậm chí có lẽ nên làm. Và không ai có thể nhốt con quỷ trở lại trong chai một khi ai đó đã vượt qua bước quyết định kỹ thuật.

Đó là tư duy tin rằng việc thụ tinh trứng trong ống nghiệm chỉ là một cách khác để sinh con, một “quy trình”, thậm chí có lẽ còn tốt hơn về mặt “kiểm soát phẩm chất” so với cách làm truyền thống. Tình yêu vợ chồng có phải chỉ là một “quy trình” khác?

Đó là lý do tại sao, bất chấp những người như David Gibson, Magnifica humanitas không phải là một sự lựa chọn nhị phân – càng không phải là sự chia rẽ – giữa “thần học về vùng chậu” và “công lý xã hội”. Công lý xã hội bắt đầu từ trong bụng mẹ: làm thế nào một đứa trẻ được sinh ra và liệu nó có được bảo vệ khi đã ở đó hay không. Đúng vậy, đứa trẻ đó một ngày nào đó nên có cơ hội làm việc. Nhưng quyền đó đòi hỏi trước đó phải có cơ hội được sống. Chúa không tạo ra con người theo hình ảnh và họa ảnh Người chỉ để làm việc: Người tạo ra con người trên hết là để được sống.